Tạp chí Thông tin toán học - Tập 11 Số 1 Tháng 3 Năm 2007
Bổ đề cơ bản là một đẳng thức giữa tích phân quĩ đạo của nhóm nửa đơn trên trường các số p-adic. Đây là một giả thuyết do Langlands* đưa ra vào những năm 70 và có một vai trò quan trọng trong việc phân loại các dạng tự đẳng cấu (automorphic) qua đối ngẫu Langlands. Tuy bổ đề cơ bản có thể phát biểu một cách tương đối sơ cấp và cụ thể, nhưng nhiều cố gắng chứng minh nó bằng phương pháp sơ cấp đã không thành công.
giả mạo của nhà nghiên cứu Hàn quốc Woo-Suk Hwang và các đồng nghiệp” là “Sự kiện tàn phá”, (Breakdown of the Year), của năm 2006. Giải thưởng Abel năm 2007 Viện Hàn lâm khoa học và Văn học Nauy vừa thông báo, GS Srinivasa S. R. Varadhan của Học viện Toán học Courant được trao Giải thưởng Abel 2007. Ông được tặng Giải thưởng Abel vi “những cống hiến nền tảng cho Lý thuyết Xác suất, nói riêng là việc sáng tạo ra lý thuyết thống nhất của các biến động lớn”. Giải thưởng này được lập ra năm 2003, có giá trị trên 975 000USD, được trao lần đầu tiên năm 2003 (xem Giới thiệu về Giải thưởng này trong Tập 6 số 1 năm 2002). Lễ trao Giải thưởng sẽ được tổ chức vào ngày 22 tháng 5 năm 2007. Varadhan là người thứ hai của Học viện Courant được trao Giải thưởng này. Danh sách những nhà toán học đã được trao là: J-S Serre (College de France, 2003), M. F. Atiyah (ĐHTH Cambridge, Oxford, Viện nghiên cứu cấp cao Princeton, Viện Toán Isaac Newton) và I.M. Singer (MIT, Mỹ) năm 2004, P. D. 14 Lax (Viện Courant, 2005) và L. Carleson (ĐHTH Stockholm, ĐHTH California, Los Angeles và Viện Kĩ thuật Hoàng gia Thụy Điển, 2006). TTTH sẽ có bài viết giưói thiệu chi tiết hơn về GS. Varadhan. Trường Toán và Hội thảo về Kỳ dị Kỷ niệm 60 năm ngày sinh của GS Lê Dũng Tráng Từ 8 - 26 tháng Giêng năm 2007, tại Cuernavaca, Mexico đã tổ chức Trường Toán và Hội thảo về Hình học và Tôpô của các Kỳ dị, kỷ niệm 60 năm ngày sinh của GS Lê Dũng Tráng. Các cơ quan đồng tổ chức gồm: • The Abdus Salam International Centre for Theoretical Physics (ICTP), Italy • International Mathematical Union (IMU) • Centre International des Mathématiques Pures et Apliqueé (CIMPA), France • Mathematical Science Research Institute, USA • Clay Mathematics Institute, USA • Conselho Nacional de Desenvolvimento Cientifico e Tecnologico, Brazil • Instituto de Matematicas, Universidad Nacional Autonoma de Mexico, Mexico Trong số các báo cáo mời, có 1 báo cáo của Việt Nam. Đó là báo cáo của GS Hà Huy Khoái. Các thông tin về GS Lê Dũng Tráng, bạn đọc có thể tham khảo thêm bài “Một nhà toán học người Việt” của Hà Huy Vui, trong TTTH, tập 9, số 1, năm 2005. Nhân dịp này, TTTH xin gửi tới GS Lê Dũng Tráng những lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Chủ tịch LĐTHTG L. Lovász: “LĐTHTG muốn giúp đỡ các nước chậm phát triển” Sau đây là trích đoạn bài trả lời phỏng vấn của Chủ tịch LĐTHTG, GS L. Lovasz, nhân dịp ông chính thức nhận chức Chủ tịch LĐTHTG, nhiệm kỳ 2007-2011, bắt đầu từ 1/1/2007. Ông cảm thấy thế nào khi được bầu là Chủ tịch LĐTHTG? Đối với tôi, đây là một vinh dự lớn đồng thời cũng là một cơ hội lớn. Trước mắt, một nhiệm vụ quan trọng nhưng khó khăn đang chờ tôi, đó là công việc chuẩn bị cho Hội nghị Toán học Thế giới lần tới. Tôi hy vọng rằng, Hội nghị lần này cũng sẽ được tổ chức chu đáo như Hội nghị Toán học Thế giới vừa qua tại Madrid, Tây Ban Nha. Ban tổ chức địa phương của Tây Ban Nha đã hoạt động rất hiệu quả. Sắp tới chúng tôi sẽ vạch ra một chương trình hoạt động cụ thể cho Ban Tổ chức. Mục tiêu chính của Ông là gì? 15 Tổ chức thật tốt Hội nghị Toán học Thế giới lần tới về mọi mặt. Có một quyết định của LĐTHTG vừa được thông qua tại Santiago là LĐTHTG sẽ tăng cường giúp đỡ các nước chậm phát triển? Đúng thế. LĐTHTG không có nhiều tiền để có thể xây dựng các Trường ĐH tặng các nước chậm phát triển, nhưng LĐTHTG có thể làm được việc sau : phát hiện các nhà toán học có tài năng ở các nước chậm phát triển và tạo cơ hội cho họ có thể thực hiện chương trình đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ. LĐTHTG cần cộng tác chặt chẽ với các cơ quan và các Hội toán học các nước đã có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này như Tiểu ban Giảng dậy Toán của LĐTHTG, Hội Toán học châu Âu, Hội Toán học Mỹ. Bà Choquet Bruhat Người báo cáo “Noether Lecture” tại ICM-2006 Để tôn vinh các nhà toán học nữ đang có nhiều cống hiến xuất sắc trong Toán học, Hội Ủng hộ phụ nữ trong Toán học AWM, (Association for Women in Mathematics), hàng năm mời một nhà nữ toán học xuất sắc nhất làm một báo cáo về lĩnh vực mình đang làm, tại cuộc gặp mặt tháng Giêng hàng năm của Hội Toán học Mỹ. Các báo cáo này có tên chung là “Noether Lecture” (báo cáo mang tên Noether). Theo sự thoả thuận giữa AWM và LĐTHTG (IMU), vào năm có Hội nghị Toán học Thế giới (ICM), thì báo cáo “Noether Lecture” của năm đó sẽ là một trong số các báo cáo mời toàn thể tại ICM. Tại ICM-2006, Bà Yvonne Choquet Bruhat (Lille, 1923), một nhà vật lý lý thuyết người Pháp, đã được IMU và AWM mời là người thực hiện “Noether Lecture”. Năm 1979, Bà là người phụ nữ đầu tiên và duy nhất cho đến thời điểm hiện tại, trong suốt 300 năm tồn tại của Viện Hàn lâm khoa học Pháp, được bầu là viện sĩ . Báo cáo của bà có tên là “Mathematical Problems of General Relativity” (Những vấn đề toán học của tương đối tổng quát”). Đây là lần thứ hai, Bà được chọn làm báo cáo viên của “Noether Lecture”, lần thứ nhất là vào năm 1986. Về “Noether Lecture”, bạn đọc có thể tham khảo thêm bài “Noether và Noether Lecture” trong TTTH, tập 9 , số 1 , năm 2005. Giải thưởng Wolf-2007 Ban Giải thưởng Wolf vừa ra thông báo, Giải thưởng Wold-2007 về Toán đã được trao cho: • Stephen J. Smale (ĐH California, Berkeley, California, Mỹ) về các công trình mang tính chất đột phá trong Tôpô, trong các Hệ động lực, trong 16 Toán-Kinh tế, và trong nhiều lĩnh vực khác nữa của Toán học. • Harry Furstenberg (ĐH Hebrew, Jerusalem, Israel) do có những thành tựu xuất sắc về Định lý Ergodic, Xác suất, Động học tôpô, Giải tích trên các không gian đối xứng và về các Dòng thuần nhất (homogenous). S. Smale đã từng đến Viêt Nam giảng bài, năm 2004. Các thông tin về S. Smale, bạn đọc có thể tham khảo thêm bài “GS S. Smale đến Hà Nội giảng bài” trong TTTH, tập 8 , số 3 , năm 2004. Cái TÂM của một Nhà Toán học Giáo sư Donald Knuth, một nhà toán học rất nổi tiếng, tác giả của bộ sách Toán quý “Nghệ thuật lập trình” gồm 3 tập, đồng thời cũng là cha đẻ của phần mềm soạn thảo văn bản TEX. Ông vừa gửi một bức thư ngỏ, dài 35 trang, cho Ban Biên tập Tạp chí “Journal of Algorithms”. Trong thư, D. Knuth đã chỉ ra rằng, ngày nay INTERNET đã làm thay đổi cơ bản công việc xuất bản, trước hết là xuất bản khoa học. Trước đây, các nhà xuất bản phải làm việc khá nhiều mới có thể cho ra một số báo. Nay thì nhờ có phần mềm miễn phí TEX của Ông, các tác giả đều phải tự đánh lấy bản thảo của mình bằng TEX với chất lượng cao theo đúng các đòi hỏi khắt khe của các nhà xuất bản. Các ban biên tập và những người duyệt bài nói chung đều làm việc tự nguyện và miễn phí. Đôi khi những người trong ban biên tập cũng có nhận được một số tiền thù lao tượng trưng, nhưng không đáng kể. Công việc còn lại của nhà xuất bản chỉ là người đứng giữa, thu bài đã soạn thảo và làm công việc in ấn, phát hành. Ấy vậy mà, hiện nay giá xuất bản mỗi bài báo chuyên ngành tính theo trang lại ngày càng tăng quá nhanh so với tốc độ tăng của lạm phát. Hậu quả là nhiều thư viện không còn đủ tiền để đặt mua các tạp chí chuyên ngành nữa. Tình cảnh càng bi đát hơn đối với các nước thuộc Thế giới thứ 3. Đó là một điều cực kỳ bất công và vô lý!. Lá thư dã làm cho cả Ban Biên tập xúc động và thấy được trách nhiệm của mình. Vì vậy toàn bộ Ban Biên tập đã đồng loạt “thoái vị” và ngay sau đó đứng ra thành lập một Journal mới, cũng chuyên ngành Thuật toán, nhưng là một tạp chí “online” (trực tuyến). Theo 17 Knuth , giá trị khoa học và danh tiếng của một Journal hoàn toàn nằm ở danh tiếng của ban biên tập, cho nên Journal trực tuyến này, cho dù là một Journal mới, nhưng ngay lập tức đã trở thành một Journal đỉnh cao trong chuyên ngành các Khoa học Máy tính. D. Knuth đã đi đến kết luận là các nhà xuất bản chuyên nghiệp đã lợi dụng các thành tựu khoa học của nhân loại (ở đây là phần mềm TEX), vốn bản chất là miễn phí và tự nguyện hiến dâng phục vụ nhân loại, để kiếm lời một cách quá đáng. Hành động này cần được dư luận lên án. Ông đặc biệt nghiêm khắc với nhà xuất bản Elsevier, kẻ kiếm lời quá đáng nhất trong số các nhà xuất bản sách khoa học trên thế giới. Tin mới nhận được cho hay, một số nhà xuất bản đã tập hợp nhau lại và phát đơn kiện lại Knuth. Hiện tại còn chưa rõ tòa sẽ xét xử ra sao đây?!. Mục Tin THTG số này do Phạm Trà Ân (Viện Toán học), Trần Minh Tước (ĐHSP2, Xuân Hoà) và Trần Thị Thu Hương (Viện Toán học) thực hiện. TÂN TIẾN SĨ Dưới đây là danh sách các tiến sĩ toán học bảo vệ trong nước từ tháng 11/2005 – 30/11/2006 đã được Bộ GD&ĐT cấp bằng tiến sĩ đến QĐ số 1246 ngày 12/03/2007 (không bao gồm các tân tiến sĩ do các trường đại học quốc gia và đại học vùng cấp). C¸c th«ng tin nµy do TS NguyÔn Lª H−¬ng (Bé Gi¸o dôc vµ ®µo t¹o) cung cÊp. ViÕt t¾t d−íi ®©y: ngµy b¶o vÖ (nbv), tËp thÓ h−íng dÉn (tthd), chuyªn ngµnh (chn), c¬ së ®µo t¹o (cs®t). 1. Bùi Kiên Cường (Trường ĐHSP Hà Nội 2), nbv: 09/8/2005, csđt: Viện Toán học. Tên luận án: “Đánh giá tốc độ hội tụ nghiệm Galerkin-sóng nhỏ của bài toán Cauchy đối với một số lớp phương trình giả vi phân”, chn: 1.01.01 – Toán giải tích, tthd: GS-TSKH Nguyễn Minh Chương. 2. Trần Văn Tấn (Trường ĐHSP Hà Nội), nbv: 22/9/2005, csđt: Trường ĐHSP Hà Nội. Tên luận án: “Vấn đề duy nhất đối với ánh xạ phân hình từ Cm vào CPn”, chn: 1.01.05 – Hình học và tôpô, tthd: GS-TSKH Đỗ Đức Thái và GS-TSKH Gerd Dethloff. 3. Đinh Quang Minh (Trường PTTH bán công Kiệm Tân, Thống Nhất, Đồng Nai), nbv: 20/10/2005, csđt: Viện Chiến lược và chương trình giáo dục. Tên luận án: “Vận dụng quan điểm hàm trong dạy học toán lớp 10 phổ thông nhằm phát triển kĩ năng giải toán cho học sinh”, chn: 5.07.02 – Phương pháp giảng dạy toán, tt
File đính kèm:
tap_chi_thong_tin_toan_hoc_tap_11_so_1_thang_3_nam_2007.pdf