Tạp chí Thông tin toán học - Tập 12 Số 1 Tháng 3 Năm 2008

Lý do để bài toán quy hoạch lõm ngày càng được nhiều người quan tâm là do phạm vi ứng dụng rộng rãi của nó trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, tài chính. Ví dụ bài toán cực tiểu hàm cước phí (hàm này trong thực tế thường là lõm vì chi phí cho một đơn vị sản phẩm sẽ giảm khi khối lượng sản phẩm tăng), hoặc bài toán cực tiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán. Trong các lĩnh vực sinh hóa, công nghệ v.v., bài toán này xuất hiện trong các vấn đề khai thác dữ liệu (data mining), học máy (machine learning), phân cụm gene (gene clustering) và nhiều lĩnh vực khác. Mặt khác rất nhiều bài toán quan trọng trong tối ưu hóa như các bài toán bù, quy hoạch tích, tối uu nhiều cấp, quy hoạch song tuyến tính, quy hoạch 0, 1 v.v. đều có thể mô tả dưới dạng một quy hoạch lõm.

pdf36 trang | Chia sẻ: Hải Khánh | Ngày: 22/10/2024 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Tạp chí Thông tin toán học - Tập 12 Số 1 Tháng 3 Năm 2008, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nghĩ 
đến sự phát triển Lý thuyết xác suất 
cũng như Thống kê như một khoa học. 
Toán tài chính bây giờ rất hấp dẫn vì nó 
có nhiều bài toán mới và tạo khả năng 
tìm việc làm dễ hơn. Cần phải nhớ rằng 
 14
không chỉ có Toán tài chính mà còn có 
khoa học rủi ro hoặc khoa học bảo 
hiểm. Ở Nga tôi là chủ tịch của hội rủi 
ro và bảo hiểm trong bốn năm và chúng 
tôi bắt đầu làm việc theo hướng này. 
Hiển nhiên, có lương cao sau khi tốt 
nghiệp đại học rất quan trọng, nhưng 
theo một nghĩa nào đó, thì thật đáng 
tiếc là nhiều sinh viên giỏi của chúng tôi 
đã bỏ nước Nga để tiếp tục học hành 
chủ yếu ở Mỹ và Anh. Nhiều người 
trong số họ đã có việc làm ở Mỹ và các 
nước khác. 
I: Thế bộ môn của ông có làm điều gì 
đó để giữ nhân tài và cổ vũ họ ở lại 
nước Nga? 
S: Đó là câu hỏi rất khó. Tôi biết rằng 
một số người đã trở lại nước Nga. 
Nhưng hãy xem này, có những người trẻ 
đi Mỹ vì luận án của họ, và đây lại là 
thời kỳ họ bắt đầu có gia đình, có con, 
nhà cửa và cuộc sống là cuộc sống. Do 
đó họ tiếp tục ở lại những nơi đó. Tôi 
biết một vài trường hợp những người 
không còn trẻ quay trở về Nga. Nhưng 
hiện tại khó mà kiếm được vị trí tốt ở 
Nga. Chẳng hạn viện Toán học Steklov 
rất nhỏ. Đấy là một viện nổi tiếng; theo 
một nghĩa nào đó giống như Viện 
nghiên cứu cấp cao (Advanced Study) ở 
Princeton. Chúng tôi nghiên cứu lý 
thuyết và tự hào là thành viên của viện 
này. 
I: Viện Steklov có bao nhiêu cán bộ? 
S: Chúng tôi có 12 bộ môn trong Viện 
với khoảng 120 cán bộ nghiên cứu. Tôi 
đã làm việc ở viện Steklov suốt đời tôi 
và tôi rất hạnh phúc. Viện thuộc Viện 
hàn lâm khoa học Nga và nếu chúng tôi 
yêu cầu vị trí mới cho một người mới 
vừa trẻ vừa giỏi thì thường được đáp 
ứng ngay. 
I: Ông nghĩ gì về tương lai Toán học 
của nước Nga? 
S: Tất nhiên tôi muốn tiếp tục truyền 
thống tốt đẹp của nước Nga về Toán 
học. Tôi muốn nói rằng bộ máy hành 
chính của Viện hàn lâm chúng tôi đang 
cố gắng thực hiện điều đó. Ai là chủ tịch 
Viện hàn lâm khoa học Nga? Viện sỹ 
Yu. Osipov là nhà toán học. Ai là Viện 
trưởng Viện toán học Steklov? Viện sỹ 
V. Kozlov kiêm Phó chủ tịch Viện hàn 
lâm. Ai là hiệu trưởng ĐHTH Moscow? 
Viện sỹ V. Sadovnichy - cũng lại là nhà 
toán học. Họ có nhiều quyền lực và họ 
đang cố gắng bảo vệ truyền thống 
không chỉ vì Toán học mà vì nền khoa 
học Nga. Như vậy, chúng tôi có một 
nhóm hành chính tốt cho Toán học. Tất 
nhiên, họ đang làm nhiều việc trong 
nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng tôi 
nghĩ rằng bảo vệ truyền thống toán học 
tốt ở nước Nga là quan điểm đúng đắn. 
Cũng còn nhiều học giả rất quan tâm tới 
giáo dục phổ thông và đại học. Đó cũng 
là một truyền thống tốt của nước Nga. 
Điều này giải thích vì sao trong những 
năm 40 và 50 Toán học Nga lại tốt đến 
như thế. Chẳng hạn, Kol làm việc 
nghiên cứu thuần túy ở Viện hàn lâm và 
đồng thời làm việc cho khoa sư phạm 
của ĐHTH Moscow. Các nhà khoa học 
giỏi trong nghiên cứu đồng thời còn 
giảng bài và tổ chức xemina ở các 
trường đại học. Kết quả là, sinh viên có 
cơ hội tốt để biết hướng nào là cần thiết 
cho công việc của họ. Sự liên kết và 
hợp tác giữa Viện hàn lâm khoa học và 
Giáo dục rất quan trọng và theo nghĩa 
nào đó, nó làm tăng khả năng gìn giữ 
truyền thống tốt đẹp của nước Nga trong 
Toán học. 
Người dịch và biên tập: 
Nguyễn Duy Tiến 
(ĐHKHTN-ĐHQG Hà Nội) 
 15
MƯỜI LĂM NĂM ẤY AI QUÊN? 
Nguyễn Đông Yên (Viện Toán học) 
Trong vòng mười lăm năm (1993-
2008), thành phố cảng Pusan (Phú Sơn - 
tên cũ, Busan - tên mới) với hơn 4 triệu 
người dân của xứ Hàn năng động đã trở 
thành một căn cứ địa quan trọng của 
nhóm nghiên cứu do GS Phạm Hữu Sách 
đứng đầu. Đã có 5 hội thảo Lý thuyết tối 
ưu và ứng dụng được tổ chức: Pusan 
tháng 2/1998, Hà Nội tháng 2/2000, 
Pusan tháng 12/2001, Tp Hồ Chí Minh 
tháng 2/2004, Busan tháng 2/2006. Hội 
thảo lần thứ 6 sẽ được diễn ra [không 
đồng thời với các cuộc thi hoa hậu - thật 
tiếc!] tại Nha Trang, Khánh Hoà (25-
29/2/2008). Hai ông bầu tự nguyện của 
các hoạt động này là GS Phạm Hữu Sách 
và GS Kim Do Sang. Để “quan họ” tối 
ưu Việt-Hàn có được tới 6 lần “đến hẹn 
lại lên” trong 11 năm, hai ông đã hết sức 
cố gắng. Duyên quan họ giữa hai ông đã 
có từ mười lăm năm trước, năm 1993, 
khi GS Sách làm Viện trưởng Viện Toán 
học (khoá 1990-1995). Hai Phó Viện 
trưởng khi đó là GS Trần Đức Vân và 
PGS Đỗ Văn Lưu. Ba vị Viện trưởng kế 
tiếp là GS Trần Đức Vân (khoá 1995-
2001), GS Hà Huy Khoái (khoá 2001-
2007), GS Ngô Việt Trung (khoá 2007-
2012), và các cộng sự, đã nhiệt tình ủng 
hộ việc hợp tác nghiên cứu giữa nhóm 
của GS Sách và nhóm của GS Kim. Việc 
hợp tác đó còn được hỗ trợ bởi sự quan 
tâm giúp đỡ rất thiết thực của lãnh đạo 
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam 
cùng toàn thể Ban Hợp tác Quốc tế của 
Viện, của Quỹ Khoa học và Công nghệ 
Hàn Quốc (KOSEF: Korea Science and 
Engineering Foundation). Nhân dịp kỷ 
niệm 15 năm hợp tác nghiên cứu khoa 
học giữa hai nhóm và 10 năm hội thảo 
Việt-Hàn về Lý thuyết tối ưu và ứng 
dụng, chúng tôi xin được kể vài chuyện 
tản mạn xung quanh việc duy trì mối 
quan hệ tốt đẹp giữa hai bên quan họ tối 
ưu Việt, Hàn. Một danh sách đầy đủ 
những bài báo và cuốn sách ra đời do sự 
hợp tác giữa hai nhóm nghiên cứu được 
cung cấp ở cuối bài viết này. 
Trong một lần vui câu chuyện thân 
tình, GS Kim bảo tôi rằng chữ Do trong 
tên ông có nghĩa là con đường (phải 
chăng gốc của nó là chữ “đồ” trong tiếng 
Trung?), có gắn với chuyện học hành; 
còn chữ Sang có nghĩa là sang trọng, 
sáng sủa. Bố mẹ đặt tên cho ông như thế 
với mong ước sau này ông sẽ được vinh 
hiển nhờ học vấn. Kim Do Sang trở 
thành giáo sư từ khi còn rất trẻ. Sau 
nhiều năm đảm nhiệm các chức vụ quản 
lý quan trọng (Trưởng Khoa Toán ứng 
dụng, Viện trưởng Viện nghiên cứu cơ 
bản, Hiệu trưởng Trường khoa học Tự 
nhiên) ở Pukyong National University, 
tháng 1/2007 ông được bầu làm Phó chủ 
tịch Hội Toán học Hàn Quốc (nhiệm kỳ 
2 năm, chức vụ kiêm nhiệm). Hội của 
ông đang tích cực vận động để Hàn 
Quốc sớm được phép tổ chức một kỳ Đại 
hội Toán học Thế giới, với niềm tin chắc 
như đinh đóng cột rằng nhờ đó có thể 
nâng cao vị trí của Toán học trong nhận 
thức của người dân xứ Hàn, lôi kéo thế 
hệ trẻ đến với Toán học. Ông có kể cho 
tôi nghe vài mẹo vận động hành lang 
(lobby) của Hội, nhưng tôi không thể nói 
ra ở đây. Ở tuổi 55, ông vẫn rất trẻ trung, 
tráng kiện. Đó là nhờ tập thể dục thường 
xuyên và sống điều độ. Ông có thể chạy 
liền mạch tới 50 km. Vì không có nhiều 
thời gian, nên mỗi tuần ông chỉ chạy 
được một lần khoảng 15 km, “tôi mới 
phát hiện ra rằng chạy trên những vỉa hè 
 16
cạnh nhà thích hơn chạy bằng máy 
chạy” – ông bảo thế. Tốc độ chạy của 
ông gấp 2 lần tốc độ chạy con rùa của tôi 
(tôi kém ông 5 tuổi và cũng thích cái trò 
chạy chọt thể dục này). 
Tôi gặp GS Kim lần đầu vào tháng 
8/1993. Khi đó, ông và GS Lee Gue 
Myung (Lý Hữu Mừng, theo cách phiên 
âm của PGS Nguyễn Năng Tâm), người 
bạn thân của ông từ thời cùng học tại 
một trường Trung học cơ sở Chuyên ở 
Pusan (về sau, có lần GS Lee đã chỉ cho 
tôi ngôi trường đó và nói “Do Sang Kim 
và tôi đã cùng học ở đây”), đến Hà Nội 
dự Hội nghị về Giải tích phi tuyến. Hội 
nghị quốc tế rất thành công này do Viện 
Toán học phối hợp với một vài trường 
đại học tổ chức tại Nhà khách Bộ Quốc 
Phòng, 33 Phạm Ngũ Lão. Các giáo sư 
B.D. Craven, S. Dolecki, F. Giannessi, 
B. Lemaire, W. Oettli, J.-P. Penot, và L. 
Thibault cũng ở trong số gần 60 đại biểu 
nước ngoài tham dự hội nghị này. Họ là 
những chuyên gia có tên tuổi trong Lý 
thuyết tối ưu và Giải tích ứng dụng. 
Sau 3 ngày hội nghị, các đại biểu có 
một ngày đi tham quan tự chọn. Số đông 
chọn Vịnh Hạ Long. Một nhóm gồm 5 
đại biểu Việt Nam và khoảng 15-16 đại 
biểu nước ngoài chọn đi thăm Chùa Tây 
Phương. Phần đông khách đi thăm Chùa 
là các nhà toán học Nhật Bản. Nhiều 
người trong số đó là những chuyên gia 
có tên tuổi trong các lĩnh vực Phương 
trình đạo hàm riêng và Giải tích toán 
học. GS Trần Đức Vân giao cho tôi dẫn 
khách đi thăm Chùa. Tôi không nhớ GS 
Kim và GS Lee có ở trong đoàn đi Chùa 
Tây Phương hay không, nhưng cuộc nói 
chuyện lần đầu của chúng tôi đã diễn ra 
vào chiều hôm ấy, trong cái sân rộng của 
Nhà khách Bộ Quốc phòng. Lúc đó hai 
vị khách Hàn Quốc đang chờ xe để về 
khách sạn, còn tôi cũng vừa làm xong 
thủ tục báo cáo với Ban tổ chức hội nghị 
về chuyến đi thăm Chùa thành công tốt 
đẹp (mặc dù rằng, vào tháng 2 năm đó, 
kẻ cắp đã vào Chùa đem mấy pho tượng 
quý - trong số đó có tượng Phật Bà Quan 
Âm ở ban thờ chính giữa gian hạ điện - 
về nhà để thờ riêng). GS Lee nói với tôi: 
“Chúng tôi có nghe báo cáo của ông. 
Không biết kết quả của ông có thể áp 
dụng được cho lớp các bài toán bất đẳng 
thức biến phân do [M. A.] Noor đưa ra 
hay không?” Tôi cám ơn hai ông đã 
quan tâm đến báo cáo của tôi, và nói 
rằng nếu được cung cấp thêm thông tin 
về nghiên cứu của Noor thì tôi sẽ suy 
nghĩ cẩn thận về câu hỏi đó. Ông Lee 
hứa sẽ cho tôi địa chỉ bài báo của Noor. 
Chúng tôi vội chào nhau, vì taxi của ông 
Kim và ông Lee đã tới Ngay ngày 
hôm sau, họ về Hàn Quốc, còn tôi đi vào 
Huế dự Trường Mùa Thu về Lý thuyết 
tối ưu - một hoạt động được coi là “Phần 
2” của hội nghị nói trên. Tôi không thể 
ngờ rằng cuộc trao đổi không đầy 5 phút 
đó đã đem đến cho tôi hai người bạn rất 
thân quý, chân thành, và sự hợp tác 
nghiên cứu đến nay đã bước sang năm 
thứ 15. (Lời giải của GS G. M. Lee và 
tôi cho câu hỏi của ông đã được đăng 
trên tạp chí J. Math. Anal. Appl., vào 
năm 1997.) 
Thực ra, việc ông Kim và ông Lee đến 
Hà Nội dự hội nghị tháng 8/1993 hoàn 
toàn không ngẫu nhiên. GS Phạm Hữu 
Sách đã thông báo về hội nghị và mời 
họ, vì ông thấy họ có một số bài về tối 
ưu véctơ và lý thuyết đối ngẫu đăng trên 
tạp chí Optimization. GS Sách đã gây 
dựng được một số mối quan hệ hợp tác 
nghiên cứu tốt với các đồ

File đính kèm:

  • pdftap_chi_thong_tin_toan_hoc_tap_12_so_1_thang_3_nam_2008.pdf
Giáo án liên quan