Tiểu luận Vận dụng quan điểm trong triết học Mác - Lê Nin để phân tích quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

MỤC LỤC

 

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1

B. PHẦN NỘI DUNG 2

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 2

I. Quan điểm toàn diện trong triết học Mác - Lê nin 2

 II. Khái niệm về kinh tế thị trường. 3

III. Việc vận dụng quan điểm trong triết học Mác-Lê nin vào hoạt động 3

CHƯƠNG II: VIỆC CHUYỂN ĐỔI SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 5

I. Chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế thi trường 5

1.Một số nét nổi bật của nền kinh tế nước ta trước khi chuyển sang nền kinh tế thị trường. 5

2-Chính sách đổi mới nền kinh tế của Đảng và nhà nước ta. 5

II- Nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước Việt Nam 8

* Những mục tiêu, thành tựu -hạn chế và biện pháp khắc phục 8

C. PHẦN KẾT LUẬN 14

I- Tóm lược lại phần nội dung 14

II- Ý kiến của bản thân 14

 

doc18 trang | Chia sẻ: Thewendsq8 | Ngày: 11/11/2015 | Lượt xem: 778 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Vận dụng quan điểm trong triết học Mác - Lê Nin để phân tích quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cho rằng chính sách kinh tế tức là chính sách xã hội trên lĩnh vực kinh tế.
 Đương nhiên, làm được điều đó không dễ.Bởi lẽ nếu trong những quyền của con người hướng tới quyền kinh tế là cơ bản nhất,quền chính trị là quyền quyết định nhất và quyền xã hội là quyền cao nhất nếu được nhận thức một cách đích thực ,các thành phần kinh tế điều suất phát từ thực tế xã hội đang vận hành theo quy luận của nó.Cần nhớ lời khuyên của Mác: “một xã hội ngay cả khi đã phát hiện được quy luận tự nhiên vận động của nó,cũng không thể nào nhẩy qua các giai đoạn tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá bỏ những giai đoạn đó.Nhưng nó có thể rút ngắn và làm xoa dịu bớt cơn đau...”
 Qua đó Đảng ta đã rút ra một bài học đau đớn của chủ nghĩa duy ý chí “muốn đốt cháy dai đoạn,không tính đến tình hình nước ta”.Phải làm gì ngay bây giờ đây ? Phải đổi mới tư duy, đổi mới giải pháp chiến lược tình thế và chiến lược lâu dài nhằm giải phóng sức sản xuất.
 Biện chứng của sự vật sinh sản ra biện chứng của tư duy chứ không thể là ngược lại _đẽo chân vừa giày.Tự chúng ta phải tự tạo ra sức mạnh cho mình,phải tự tháo gỡ những ách tắc trong tư duy.Một lần nữa xin được cầu viện đến Mác “yêu cầu từ bỏ tình cảnh của mình cũng là yêu cầu từ bỏ cái tình cảnh đang cần có ảo tưởng”.Trên ý nghĩ đó nghị quyết 8 của Đảng chỉ rõ: “Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của Nhà nước,đồng thời xác lập ctự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh,nhằm phát huy tác động tích cực to lớn đi đôi với ngăn chặn hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trường.Nhà nước quản lýthị trường bằng pháp luận,cơ chế,kế hoạnh,các công cụ đòn bẩy kinh tếvà bằng các nguồn lực của khu vực kinh tế nhà nước” (*).Tại sao nền kinh tế thị trường lại phải có sự quản lý của nhà nước.
 Chúng ta đã biết, cơ chế hoạt động của nền kinh tế thị trường rất phức tạp bỏi nó bị chi phối bởi hàng loạt các quy luận kinh tế đan xen chằng chịt.Cơ chế thị trường với những ưu điểm: Kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo các điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế .Từ đó làm cho nền kinh tế năng động và huy động được các nguồn lực xã hội vào phát triển kinh tế.Sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường phải áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất để từ đó nâng cao năng suất lao động.
 Lịch sử phát triển của sản xuất đã chứng minh rằng :Cơ chế thị trường là cơ chế điêu tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả cao.Song nó cũng không phải là hoàn hảo mà nó vốn có những khuyết tật,đặc biệt là về mặt xã hội. Có thể kể ra một số khuyết tật của nền kinh tế thị trường như lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường,đặc biệt là gây ra các tệ nạn xã hội làm tổn hại đến truyền thống đạo đức của dân tộc .
 Đảng và nhà nước ta đã nhận thức rõ điều đó.Trên cơ sở lý luận thực tiễn,bằng biện pháp áp dụng quan điểm trong triết học Mác-Lênin,đã xem xét cơ chế thị trường một cách tổng thể,nhìn nhận dưới mọi góc độ,đánh giá những ưu điểm,nhược điểm,từ những thành tựu đến nhữngthiếu sót trong nền kinh tế thị trường.Đặc biệt Đảng vàNhà nước ta đã đặt nền KT thị trường vào hoàn cảnh của Việt Nam nhận thức so sánh giữa cái được và cái mất,nắm vững bản chất của kinh tế thị trường với đầy đủ các yếu tố và thuộc tính của nó. Do vậy,trong quan điểm của Đảng ta thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu: “Dân giầu-Nước mạnh-Xã hội công bằng-Văn minh” 
 Cơ chế thị trường theo định hướng định hưóng xã hội chủ nghĩa hay cơ chế thị trường của chủ nghĩa xã hội có những đặc trưng sau 
 Trước hết, Trong kinh tế thị trường dưới CNXH sở hữuquốc doanh và tập thể phải dữ vai trò chủ thể (định lượng)và chủ đạo(định tính).Đặc trưng này đã phân biệt kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. 
 Mặt khác,phải khuyến khích kinh tế cá thể,tiểu chủ và tư nhân trong các nghành nghề.Nhà nước chỉ can thiệp khi có những biểu hiện tiêu cực.Chính vì vậy mà kinh tế thị trường ở nước ta phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
 Để áp dụng vào thực hiện nền kinh tế thị trường của CNXH Đảng và nhà nước ta đã đề ra một số biện pháp sau: đảm bảo ổn định chính trị xã hội cần thiết lập hệ thống pháp luật đây là nhiệm vụ cơ bản và lâu dài.Bởi vì xã hội ổn định về thể chế chính trị là nền tảng để phát triển kinh tế, mà xã hôi muốn đảm bảo công bằng thì phải có sự quản lý của nhà nước bằng hệ thống pháp luật khiến cho mọi người yên tâm lao động và hoạt động kinh tế .
II- Nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước Việt Nam 
 * Những mục tiêu, thành tựu -hạn chế và biện pháp khắc phục
 Nhờ chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 10 năm thực hiện đổi mới nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lởntong tất cả các nghành, các thành phần kinh tế.
 Về nông nghiệp:Từ một nền nông nghiệp nghèo nàn,lạc hậu hiện nay nông nghiệp nước ta có nhiều đổi mới. Sự nghiệp công nghiệp hoá -hiện đại hoá đưa máy móc vào sản xuất nông nghiệp đã giải phóng dần dần sức lao động của người dân.Việc áp dụng khoa học kỹ thuật,đưa phân bón, thuốc trừ sâu, các giống lúa mới, kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất đã nâng cao năng suất lao động. Sản lượng nông nghiệp không những đáp ứng nhu cầu của người dân mà còn dư thừa để xuất khẩu.Thành tựu to lơn đó phải kể đến là nước ta đứng thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu gạo.
 Về công nghiệp: Từ một nền công nghiệp nhỏ bé, hiện nay công nghiệp đã đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế của đất nước. Nhiều nhà máy lớn với thiết bị máy móc hiện đại được xây dựng và phát triển mạnh.Nếu như trước đây chỉ có nghành công nghiệp khai khoáng, đóng tầu, dệt may... thì nay đã phát triển thêm các nghành công nghiệp mới như các nghành; chế tạo máy, chế biến thực phẩm,công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng, công nghiệp điện tử... đặc biệt là nhà máy chế biến dầu thô ở Dung Quất - Quảng Ngãi, đây là nhà máy lọc dầu vào loại lớn nhất ở khu vực Đông Nam á.
 Ngành du lịch và dịch vụ trong những năm gần đây đem lại phát triển thu nhập lớn cho nền kinh tế nước ta. Các khu du lịch nổi tiếng, di tích lịch sử được bảo tồn, tôn tạo hàng năm thu hút lượng du khách rất lớn cả trong nước và trên quốc tế.
 Ngành giao thông vận tải đáp ứng khá đầy đủ nhu cầu của nền kinh tế. Hệ thống cầu đường được nâng cấp và sửa chữa nhiều. Xây dựng nhiều tuyến đường và cầu phà, đảm bảo lưu thông được nhanh chóng ,phù hợp với tốc độ vận động của kinh tế thị trường, không những phát triển giao thông đường bộ mà cả giao thông đường thuỷ, đường hàng không cũng phát triển đáng kể .
 Trong thương nghiệp: những năm gần đây còn mở rộng các quan hệ kinh tế. Đặc biệt là các nước trong khu vực Đông Nam á .Luật đầu tư nước ngoài với những điểm tạo điều kiện cho phía đầu tư đã ngày càng thu được những hợp đồng kinh tế quan trọng. Thật đáng mừng với con số 1644 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn là 21,8 tỷ USD tính từ năm 1996-1998.
 Bên cạnh việc chỉ đạo đổi mới và phát triển kinh tế Đảng và nhà nước ta cũng không quên tính khách quan, tính duy vật của kinh tế. Vì vậy Đảng luôn đặt nền kinh tế vào trung tâm và so sánh với các hoạt động khác.Để trong sự tồn tại phát triển của xã hội có sự đồng bộ giữa các nghành, các lĩnh vực đảm bảo sự phát triển vững vàng ,an toàn và hiệu quả.
 Ta đã biết, công bằng xã hội là một đặc trưng cơ bản của xã hội mới, là ước mơ khát vọng của nhân dân, là động lực thúc đẩy mọi người vươn lên trong cuộc sống. Muốn như vậy, các nhà lãnh đạo của nước ta phải luôn vạch ra đường lối chỉ đạo cho các hoạt động diễn ra theo đúng quy luật. Một số giải pháp mà nhà nước ta đã thực hiện là: bên cạnh việc phát triển KTTT là chính sách đẩy mạnh KHKT, khuyến khích tài năng sáng chế, phát minh bảo vệ môi trường, chống buôn lậu và làm hàng giả. Xây dựng hệ thống pháp luật đảm bảo quyền bình đẳng cho các doanh nghiệp, mà pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, pháp luật nói chung và pháp luật hành chính nói riêng có mối quan hệ biện chứng với kinh tế. Đồng thời , nền kinh tế thị trường đã quyết định sự hiện diện của pháp luật hành chính với những quy định mới, quyết định toàn bộ nội dung và tính chất cũng như cơ chế điều chỉnh của pháp luật hành chính đã tạo ra hành lang pháp lý mới đảm bảo tính quyền lực nhà nước đồng thời đảm bảo nguyên tắc tự do, dân chủ. Vai trò của pháp luật hành chính đối với nền kinhtế thị trường thể hiện ở các mặt sau: Về cơ cấu sở hữu;cơ chế kinh tế; Về xác định địa vị pháp lý hành chính của cơ quan nhà nước trong nền kinh tế thị trường; Về cơ chế giải quyết khiếu lại tố cáo của công dân. Như vậy, để quản lý xã hội bằng pháp luật nhất là trong bối cảnh có sự chuyển đổi kinh tế xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải thường xuyên củng cố, hoàn thiện cơ chế điều chỉnh của pháp luật. 
 Quá trình cải cách kinh tế không chỉ thành công trong việc thúc đẩy kinh tế mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho các tầng lớp dân cư Việt Nam. Các mặt xã hội trong vài năm gần đây được nâng cao và cải thiện đặc biệt việc giáo dục đã đạt đưọc những thành tựu đáng kể trong giai đoận phát triển. Một số kết quả dưới đây sẽ cho chúng ta thấy rõ: như năm 1989 tỷ lệ ghi danh sách của cấp 1 là 97% thì đến năm 1995tỷ lệ này là 115%, tỷlệ ghi danh sách cấp 2 của năm1989 là 46,2%, đến năm 1995 tăng lên54,8%, tương ứng ở cấp 3 tỷ lệ này tăng 16,4% năm 1989, tăng 18,9%năm 1995. Số lượng trung học, dậy nghề và đại học cũng tăng đáng kể. Đầu tư ngân sách cho giáo dục đào tạo tăng đáng kể. Nếu năm 1990 đầu tư cho giáo dục chỉ chiếm 8,3% tổng chi ngân sách và 1,83%GDP thì đến năm1994 chiếm tới 10,44% tổng chi ngân sách và 2,7% GDP 
 Dù có những thành công nêu trên,song sự nghiệp giáo dục và đào tạo ỏ Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều thách thức lớn với những nhiệm vụ nặng nề trước các yêu cầu mới về phát triển kinh tế. Những cản ngại và thách thức trong giáo dục và đào tạo ở VN bao gồm:hiến pháp và các chính sách của VN đều khuyến khích mọi công dân đều có bình đẳng và ngang nhau về cơ hội học hành nhưng trên thực tế vẫn còn sự bất bình đẳng về cơ hội học hành giữa nam và nữ, giữa th

File đính kèm:

  • docT126.doc
Giáo án liên quan